Hiển thị các bài đăng có nhãn Oto - Xe Máy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Oto - Xe Máy. Hiển thị tất cả bài đăng

Phân loại các loại xe máy.

Trên thế giới có rất nhiều loại xe máy (khoảng gần 30 loại) với các thiết kế và mục đích sử dụng khác nhau. Autonet chỉ trích lược những loại thường gặp nhất.
1. Chopper
chopper.jpg chopper2.jpg
Đây là loại xe máy với góc nghiêng phuộc trước rất lớn, phuộc vươn dài về phía trước. Thông thường loại xe này có kiểu dáng thanh thoát với lốp bánh trước có tiết diện nhỏ và nhẹ.
2. Cruiser
cruiser2.jpg cruiser.jpg
Là một khái niệm mới về xe mô tô xuất hiện vào những năm 1980, chỉ các loại xe phong cách cổ điển với yên thấp, dáng người ngồi thẳng lưng và có rất nhiều trang trí mạ chrome.
3. Touring Bike
touring.jpg touring2.jpg
Là loại xe máy được trang bị sang trọng và tiện nghi để phục vụ các chuyến đi xa và dài ngày. Xe này thường có ốp che gió và các hộp đựng hành lý lớn.
4. Naked Bike
naked2.jpg naked.jpg
Dịch thô là xe trần, tức là xe không có các ốp chắn phía trước cũng như bên hông xe, để lộ động cơ (thậm chí là cả khung xe).
5. Sportbike
sport.jpg sport2.jpg
Loại xe siêu tốc và có trọng lượng cực nhẹ, đầy đủ các mảng ốp chắn, trang bị tiện nghi thì lại nghèo nàn và đơn sơ bởi thế mạnh của loại xe này là tăng tốc tốt, ga nhạy bén, phanh ăn tốt… Tóm lại đó là xe được sản xuất bằng các nguyên liệu nhẹ, đắt tiền để tối ưu hóa tính năng.
5. Sport Tourer - Sport Touring
touring_sport2.jpg touring_sport.jpg
Là các loại xe máy kết hợp giữa xe máy thể thao và xe du lịch. Chính vì vậy Sport Tourer thường có trang bị không được tiện nghi như xe Touring, nhưng động cơ lại mạnh mẽ hơn và tăng tốc cũng tốt hơn.
6. Scooter
scooter.jpg scooter_max.jpg
Là loại xe máy có bánh nhỏ và béo, động cơ thì đặt ngay gần bánh sau, để lại một khoảng không rộng và phẳng để chân của người điều khiển. Các loại xe scooter được trang bị động cơ lớn thì được gọi là Maxi-Scooter.
7. Off-road Bike
off_road2.jpg off_road.jpg
Đây là loại xe mô tô được thiết kế để chuyên sử dụng trên điều kiện địa hình. Hệ thống giảm xóc có biên độ lớn và lốp có gai rất to.
8. Minibike
minibike.jpg minibike2.jpg
Là các phiên bản cỡ nhỏ của những loại xe truyền thống. Thường thì loại xe này không được lưu hành một cách hợp pháp trên đường giao thông.
9. Supermoto
supermotor.jpg supermotor2.jpg
Là loại xe trông kiểu dáng giống xe địa hình, nhưng được trang bị lốp mềm không có gai để vận hành trên đường nhựa.
10. Moped
moped.jpg moped2.jpg
Đây là loại xe đặc biệt, “xe đạp lắp động cơ”, thường có cả pedal để người điều khiển xe đạp hỗ trợ trong trường hợp cần thiết. Động cơ thường cỡ nhỏ dưới 50cc và tốc độ bị khống chế dưới 50km/h.
11. Sidecar (quen gọi là sít-đờ-ca)
sidecar1.jpg sidecar2.jpg
Là loại xe có một chiếc thùng chở bổ sung gắn vào sườn của một chiếc xe máy để chở hàng hoặc chở thêm một người. Ưu việt của loại xe này là thăng bằng tốt hơn xe máy thông thường, có thể hoạt động tốt trên cả các địa hình trơn trượt.

Đánh Giá Toyota Altis 2010

Đánh giá Toyota Altis 2010

Những cải tiến về động cơ, hộp số giúp Altis có nhiều thú vị hơn. Nhưng chiếc sedan này vẫn chưa thể đứng đầu về cảm giác lái.

Toyota đã có bước đi mạnh tay khi tung ra phiên bản nâng cấp (facelift) của Altis với những thay đổi có thể "hạ sát" các đối thủ như Honda Civic hay Ford Focus. Chưa bao giờ mà giữa chu kỳ sản phẩm, Altis lại có hàng loạt thứ mới như động cơ đều là loại ZR tích hợp công nghệ dual VVT-i. Hộp số tự động 4 cấp cũ thay bằng loại vô cấp Super CVT-i với 7 cấp ảo. Trên bản cao cấp nhất Altis 2.0 còn có cả khởi động bằng nút bấm, trang bị đang rất được ưa chuộng trên xe Hàn Quốc.


Vóc dáng Altis mới không thay đổi nhiều, nhưng đủ để có những ý kiến phản hồi. Phần đầu, thân mượt mà hơn so với đời 2009. Nhưng cụm đèn hậu bị cho là phá vỡ công lao đó. Sử dụng công nghệ LED và lồi hẳn ra ngoài, cụm đèn này có kết cấu cứng nhắc và không ăn nhập với các đường cong mà Toyota sử dụng khắp thân.
Nội thất Altis mới không có thay đổi nào về kết cấu và vẫn nhỉnh hơn các đối thủ nhờ không gian thoáng, rộng. Hướng tới cảm giác sang như của Camry hơn là tính thể thao như Civic. Trên bản Altis 2.0, nội thất bọc da. Ghế lái chỉnh điện 4 hướng có đỡ lưng. Ghế phụ chỉnh tay.
Nhấn nút khởi động, tiếng máy Altis 2.0 khá êm. Độ cách âm động cơ của Altis đạt điểm cộng nếu so với các xe cùng phân khúc. Vòng tua máy cầm chừng ở 850 vòng/phút. Nhả chân phanh, xe chuyển bánh nhẹ nhàng.
Đạp ga, vòng tua tăng lên 2.500 vòng/phút, tốc độ 60 km/h. Tiếng máy "hú" theo cùng kim vòng tua nhưng khác với số tự động có cấp, âm thanh đó chỉ tăng lên rồi nhỏ dần, không có khúc trễ. Quá trình tăng tốc của Altis giống hệt những chiếc xe tay ga, êm nhưng không có cảm giác phấn khích cho những ai thích sự bứt phá.
Ở bản 2.0, công suất 144 mã lực của động cơ đủ mạnh để đảm bảo hộp số vô cấp Super CVT-i hoạt động ở chế độ tối ưu. Gia tốc tốt và khá thoải mái khi vượt xe trên đường trường.

Nhưng ở Altis 1.8AT, hộp số này gây ra tiếng rít từ bộ dây đai dẫn động. Trên những đoạn đường nhiều dốc, nếu để nguyên vị trí D, vòng tua máy luôn ở trên 2.000 vòng/phút, tiếng rít rất rõ. Thậm chí khi xuống dốc và phanh giữa chừng, âm thanh rõ như trên bộ dây đai của xe tay ga khi giảm tốc.
Super CVT-i có 7 cấp ảo để sử dụng cho các tình huống khác nhau. Khi chuyển sang trạng thái bán tự động, máy tính sẽ ép các puly và dây đai ở tỷ số truyền nhất định (tương ứng với từng cấp). Tuy nhiên, chức năng này chỉ hợp khi leo dốc. Trên đường trường, trạng thái sang số không rõ ràng như chế độ bán tự động của hộp số AT thông thường.
Cảm giác lái Altis thực sự tiến bộ so với đời trước. Vô-lăng đầm hơn một chút, nhưng quan trọng là tròn đều và chuẩn hơn. Đi tốc độ 80 km/h không bị lắc như phiên bản 2009. Tay lái Altis 2.0 bọc da, dễ nắm và chắc chắn khi vào cua. Chân ga vừa tầm nhưng phanh vẫn còn có độ dơ khi ở đầu hành trình.
Nếu đặt cạnh Honda Civic, Altis vẫn "thua" ở độ nhạy và thật của tay lái. Phanh Civic có độ đàn hồi, chuẩn xác và cho cảm giác an toàn hơn. Về mức tiêu hao nhiên liệu Toyota Việt Nam công bố mức trung bình của bản Altis 2.0 vào khoảng 7 lít cho 100 km.
Hệ thống an toàn gồm chống bó cứng phanh ABS, phân bổ lực phanh điện tử EBD, hỗ trợ phanh khẩn cấp BA. Hai túi khí cho hàng ghế trước. Cảm biến lùi báo hiệu bằng âm thanh. Các trang bị này có trên tất cả các phiên bản. Theo lý giải của Toyota, với tình trang giao thông tại Việt Nam thì cân bằng điện tử ESP thực sự chưa cần thiết. Vì thế liên doanh này không đưa hệ thống này lên Altis mới để giảm giá thành.
Altis 2.0 có màn hình DVD lắp thêm (không phải màn navigator nguyên bản) nối với 6 loa. Điều hòa tự động một vùng và như thông lệ, hệ thống làm mát của Altis làm lạnh sâu và nhanh. Giống như đời trước, màn hình công-tơ-mét hơi chói với một số tài xế. Trong khi Toyota lại không trang bị nút chỉnh độ sáng như các loại xe khác.
Mức giá sau thuế cho bản Altis 1.8MT là 675 triệu đồng. Bản Altis 1.8 AT là 722 triệu đồng và 2.0AT là 786 triệu đồng. Sự thay đổi này gần như không đáng kể so với đời 2010 và càng gây khó khăn hơn cho những xe cùng phân khúc.
Theo thông báo của Toyota Việt Nam, đơn hàng chờ Altis mới đã kéo dài đến tháng 2/2011.